Tết Nguyên đán: Tỷ lệ trẻ bị vô sinh tăng cao Tết Nguyên đán: Tỷ lệ trẻ bị vô sinh tăng cao

Tết Nguyên đán: Tỷ lệ trẻ bị vô sinh tăng cao

11-01-2017
Bởi: Chuyên trang Dạy con Có: 0 bình luận 57 lượt thích

Vào mùa đông xuân, nhất là dịp gần Tết Nguyên đán là thời gian trẻ dễ mắc bệnh quai bị. Bệnh thường xảy ra ở trẻ dưới 15 tuổi, có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm màng não hoặc thậm chí là vô sinh.

Bệnh quai bị là gì

Bệnh quai bị hay còn gọi là bệnh viêm tuyến mang tai. Bệnh thường xảy ra với trẻ dưới 15 tuổi nhất là giai đoạn từ 6-10 tuổi. Bênh thường xảy ra vào mùa đông xuân, khi thời tiết chuyển lạnh là lúc trẻ dễ mắc các bệnh về đường hô hấp. Nhất là dịp gần tết, giai đoạn chuyển mùa bệnh quai bị sẽ bùng phát mạnh nhất. Bệnh lây lan qua đường hô hấp khi nước bọt bị nhiễm khuẩn khi người bênh nói chuyện, ho hoặc hắt hơi. Người bệnh có thể bị lây nhiễm từ trước khi tuyến mang tai có biểu hiện bị sưng.

Gần Tết là thời điểm trẻ rất dễ mắc quai bị

Bệnh quai bị có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm

Nguyên nhân gây bệnh

Có hai nguyên nhân gây bênh là do siêu vi hoặc virut Paramyxo gây nên. Ngoài ra người mắc quai bị cũng là một nguồn bệnh cần cách ly.

Các trường hợp do siêu vi thì có thể điều trị tại nhà. Cho trẻ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, nghỉ ngơi, hạn chế vận động, bệnh sẽ tự khỏi sau 5-7 ngày, có thể cho bé uống thuốc hạ sốt nếu bị sốt.

Các trường hợp do virut gây nên sẽ có biểu hiện ói mửa, đau đầu, sốt cao hoặc bộ phận sinh dục sưng to. Trường hợp này phải lập tức đưa trẻ đến bệnh viện, nếu không sẽ biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm màng não, viêm buồng chứng , viêm tinh hoàn có thể dẫn đến teo tinh hoàn và vô sinh.

Trẻ mắc quai bị rất dễ lây lan cho người khác, vì thế phải cách ly trẻ, khi tiếp xúc phải đeo khẩu trang. Tuy nhiên khi đã bị mắc quai bị thì cơ thể có khả năng miễn nhiễm, không bị lại lần thứ hai. Nghiên cứu thống kê cho thế 85% người trưởng thành từng bị mắc quai bị, trẻ em trong độ tuổi tiểu học bị mắc nhiều nhất, cũng có những trẻ bị mắc quai bị từ rất sớm khi mới chỉ vài tháng tuổi vì cơ thể chưa có sức đề kháng hoặc kháng thể được thừa hưởng từ máu và sữa mẹ bị suy giảm.

Triệu chứng của bệnh

Sau khi bị nhiễm virut, thời gian ủ bệnh từ 1-2 tuần, trong thời gian này trẻ không có triệu chứng nào. Trong khoảng thời gian trước khi phát bênh 2 ngày và sau khi phát bệnh 9 ngày, người bệnh có khả năng lây nhiễm bệnh cho người khác.

Các triệu chứng đầu tiên là mệt mỏi, sốt, nhức đầu, buồn nôn. Biểu hiện lâm sàng rõ nhất là sưng vùng góc hàm, không đỏ, da bóng, ấn vào đau. Thường một bên sẽ sưng trước nhưng cũng có trường hợp chỉ ảnh hưởng một bên. Bệnh nhân nhai, nuốt khó khăn.

Khi tuyến mang tai đã sưng lên rõ, những cơn đau đầu sẽ càng dữ dội, trẻ sợ ánh sáng chói, chán ăn và nôn ói. Bệnh nhân nam có thể có triệu chứng sưng tinh hoàn. Triệu chứng sưng phồng sẽ giảm sau 5-10 ngày.

Biến chứng của bệnh

Bệnh tưởng chừng đơn giản nhưng thực tế lại gây những biến chứng cực kì nguy hiểm:

  • Biến chứng viêm não – viêm màng não: Trẻ có hiện tượng sốt cao, nhức đầu, ói mửa, nôn, co giật.
  • Viêm màng não tăng lâm ba lành tính. 16% trường hợp bị quai bị mắc phải.
  • Viêm não: chiếm tỉ lệ 0,5%. Biến chứng này có thể xảy ra ở thời điểm tuyến nước bọt đang sưng viêm hoặc sau đó 2 – 3 tuần lễ.
  • Biến chứng vào các thần kinh sọ não (0,1%) gây điếc một bên hoặc cả 2 bên tai. Các biến chứng gây viêm thần kinh, viêm tủy, viêm nhiều rễ thần kinh có thể xảy ra nhưng rất hiếm gặp.
  • Biến chứng viêm tinh hoàn (ở trẻ tuổi dậy thì): biến chứng này thường gặp nhất. Biến chứng xảy ra sau 7-10 ngày viêm tuyến mang tai, trẻ thường đột nhiên sốt cao 40-41 độ C, lạnh run, nhức đầu, mê sảng, ói mửa, đau bụng, tinh hoàn sưng to. Tình trạng này kéo dài khoảng một tuần thì giảm. Tinh hoàn sưng to, đỏ, rất đau và kèm sốt cao, có thể teo, gây vô sinh nếu cả 2 tinh hoàn cùng bị. Viêm tinh hoàn chiếm tỉ lệ 2% số trường hợp quai bị.
  • Nhồi máu phổi: Là tình trạng một vùng phổi bị thiếu máu nuôi dưỡng, có thể tiến đến hoại tử mô phổi. Nhồi máu phổi là biến chứng có thể xảy ra sau viêm tinh hoàn do quai bị vì hậu quả của huyết khối từ tĩnh mạch tiền liệt tuyến.
  • Viêm buồng trứng (4%) (cũng ở tuổi dậy thì) đau nặng vùng thượng vị, trong nước tiểu có đường, đau bụng một bên hoặc 2 bên gần vùng hố chậu.
  • Biến chứng viêm tụy tạng cấp: thường ít gặp nhất, xuất hiện vào ngày thứ ba đến ngày thứ bảy sau khi viêm tuyến mang tai, người bệnh sốt cao, đau bụng, nôn, trụy mạch. Trẻ cần được nghỉ ngơi, uống thuốc hạ sốt, giảm đau là có thể hồi phục sau hai tuần.
  • Bệnh quai bị ở phụ nữ có thai: Những phụ nữ bị quai bị trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây sảy thai hoặc sinh con dị dạng, trong 3 tháng cuối của thai kỳ có thể sinh non hoặc thai chết lưu.
  • Một số biến chứng khác: Viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến lệ, viêm thần kinh thị giác (gây giảm thị lực tạm thời), viêm thanh khí phế quản, viêm phổi, rối loạn chức năng gan, xuất huyết do giảm tiểu cầu. Vì viêm tuyến mang tai còn có thể gây ra do các virus khác (Coxackie, Influenza), do vi trùng (Staphylococcus aureus), do tắc ống dẫn tuyến nước bọt vì sỏi và viêm tinh hoàn còn có thể do lao, Leptospirose, lậu nên trong một số trường hợp khó chẩn đoán, bệnh nhân cần thực hiện một số xét nghiệm như: Phân lập virus từ máu dịch họng, dịch tiết từ ống Stenon, nước tiểu hay dịch não tủy. Các phản ứng huyết thanh học: Test ELISA, miễn dịch huỳnh quang, trung hoà bổ thể.

 

Cách điều trị

Trong trường hợp trẻ bị nhẹ (do siêu vi gây nên) có thể điều trị tại nhà. Nhưng phải lưu ý những điều sau:

  • Cho trẻ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, để trẻ có sức đề kháng. Cho trẻ ăn các loại thức ăn mềm và dễ nuốt vì trẻ rất khó ăn.
  • Cho trẻ uống nhiều nước, ăn nhiều hoa quả và rau xanh. Có thể uống nước ngọt cho trẻ dễ ăn.
  • Nếu trẻ bị sốt hoặc quá đau có thể cho trẻ uống thuốc hạ sốt, nên tham khảo ý kiến của bác sĩ về liều lượng và đề phòng trẻ dị ứng với thành phần thuốc.
  • Có thể chườm nóng vùng góc hàm.
  • Hạn chế cho trẻ ra ngoài, ở trong phòng tối, tránh gió để vùng sưng tấy không nặng thêm. Không cho trẻ đến trường, đến khu vui chơi, nơi đông người để không lây bệnh cho người khác.
  • Vệ sinh cá nhân, cho trẻ đánh răng, xúc miệng thường xuyên và sát trùng các vùng chất dịch tiết ra.
  • Không tự ý bôi đắp các loại thuốc.

Khi trẻ có dấu hiệu bệnh nặng, trẻ sốt, nôn mửa, mệt mỏi, sưng bộ phận sinh dục… thì phải đưa đến cơ sở y tế để điều trị kịp thời.

Hiện nay chưa có thuốc đặc trị quai bị, mà chủ yếu là điều trị triệu chứng và nâng đỡ cơ thể, cách ly bệnh nhân từ 10-15 ngày.

Phòng tránh bệnh quai bị cho trẻ

Tránh cho trẻ tiếp xúc với bệnh nhân mắc quai bị

Miễn dịch chủ động bằng vắc xin. Tiêm vắc xin cho trẻ lúc 1 tuổi, và nhắc lại lúc 4 tuổi. Không tiêm cho phụ nữ mang thai, người dị ứng với vắc xin, hoặc người đang điều trị với thuốc gây giảm miễn dịch như corticoid, thuốc điều trị ung thư, đang điều trị phóng xạ… Tuy nhiên cần lưu ý, 20% người tiêm vắc xin phòng quai bị vẫn có thể bị lại.

Những thông tin trên đây chỉ có tính chất tham khảo, khi trẻ mắc quai bị không nên chủ quan mà phải đưa trẻ đến khám bác sĩ hoặc đến cơ quan y tế để điều trị kịp thời.

Mạc Thư

Từ khóa: , ,



Bình luận

Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC